BÁO CÁO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 2025 PVFCCo
Tải báo cáo

CHUYỂN ĐỔI XANH

Giảm phát thải và sử dụng năng lượng bền vững

Quản lý hiệu quả sử dụng và chuyển đổi năng lượng (GRI 302)

Điểm sáng nổi bật nhất là cường độ sử dụng năng lượng trên một tấn sản phẩm sản xuất đạt 7,68 GJ/tấn đang được PVFCCo cố gắng cải thiện liên tục với mức giảm 11,2% so với năm 2023. Điều này minh chứng cho cam kết của PVFCCo trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và đóng góp vào lộ trình giảm phát thải khí nhà kính.

Xem thêm

Giảm phát thải khí nhà kính (GRI 305)

Bám sát các yêu cầu về kiểm kê, quản lý và xây dựng kế hoạch giảm nhẹ phát thải khí nhà kính theo quy định tại Nghị định số 06/2022/NĐ–CP, đồng thời cụ thể hóa định hướng phát thải ròng bằng “0” đến năm 2050 của Việt Nam đã được công bố tại COP26 cũng như chiến lược phát triển bền vững của Tập đoàn mẹ, PVFCCo đã từng bước xây dựng nền tảng quản lý phát thải khí nhà kính một cách bài bản và có hệ thống. Công tác kiểm kê khí nhà kính tại Nhà máy Đạm Phú Mỹ được triển khai từ năm 2022, làm cơ sở để xác định mức phát thải cơ sở và xây dựng lộ trình hành động trong trung và dài hạn. Theo đó, Nhà máy Đạm Phú Mỹ đặt mục tiêu đến năm 2030 giảm 3% tổng lượng phát thải khí nhà kính so với năm gốc 2022, tương đương mức giảm khoảng 17.514 tấn CO2.

Xem thêm

Quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên (GRI 301)

Hoạt động sản xuất trong lĩnh vực phân bón và hóa chất phụ thuộc đáng kể vào các nguồn đầu vào có nguồn gốc từ nhiên liệu hóa thạch, đặc biệt là khí tự nhiên, cùng các loại chất xúc tác vô cơ – những nguồn tài nguyên có giới hạn. Nhận thức rõ đặc thù này, PVFCCo chú trọng thúc đẩy các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, đồng thời từng bước nghiên cứu các lựa chọn nguyên liệu thay thế có khả năng chuyển đổi, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững trong dài hạn.

Xem thêm

Giám sát, quản lý nước thải và chất thải

Nước thải (GRI 303-1, 303-2, 303-3, 303-5) (SASB: EM-RM-140a.1)

Việc kiểm soát và hạn chế các tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên và cộng đồng dân cư xung quanh khu vực hoạt động luôn được PVFCCo xác định là một trụ cột trong quản trị doanh nghiệp có trách nhiệm. Trên cơ sở các yêu cầu pháp lý ngày càng chặt chẽ và kỳ vọng gia tăng từ các bên liên quan, Tổng công ty từng bước chuyển từ cách tiếp cận tập trung vào tuân thủ sang mô hình quản lý tác động môi trường mang tính chủ động và hệ thống hơn.

Xem thêm

Chất thải (GRI 303-4, GRI 306) (SASB: EM-RM-150a.1)

Xem thêm

Bảo tồn đa dạng sinh học, nguồn nước và chất đất (GRI 101)

Tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ tài nguyên nước

Lượng nước bề mặt sử dụng của PVFCCo năm 2025 giảm 3,7% so với năm 2024 do đợt bảo dưỡng tổng thể làm giảm số ngày vận hành thực tế – đây là nguồn nước chủ yếu phục vụ hệ thống làm mát tuần hoàn và được giám sát online liên tục để bảo vệ hệ sinh thái thủy sinh sông Thị Vải. Điểm sáng ESG nổi bật nhất là lượng nước cấp duy trì xu hướng giảm liên tục và nhất quán trong giai đoạn 2023 – 2025 – phản ánh hiệu quả thực chất của các nỗ lực tái sử dụng và tuần hoàn nước nội bộ, tối ưu hóa hệ thống xử lý nước và giảm thất thoát trong vận hành. Nhìn tổng thể, PVFCCo đang quản lý ngày càng hiệu quả nguồn nước đầu vào, đặc biệt ở chỉ tiêu nước cấp – nguồn tài nguyên nước ngọt có giá trị cao và tác động môi trường lớn nhất – thể hiện cam kết cụ thể và có thể đo lường được của Tổng công ty trong việc sử dụng tiết kiệm tài nguyên nước theo tinh thần kinh tế tuần hoàn.

Xem thêm

Quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học, chất đất

Trong tiến trình hướng tới phát triển bền vững, PVFCCo xác định việc quản lý và bảo vệ các yếu tố nền tảng của hệ sinh thái tự nhiên là điều kiện tiên quyết nhằm đảm bảo tính lâu dài và ổn định của hoạt động sản xuất – kinh doanh. Đa dạng sinh học và chất lượng đất không chỉ đóng vai trò quan trọng đối với môi trường xung quanh khu vực nhà máy, mà còn có ý nghĩa then chốt trong chuỗi giá trị nông nghiệp mà Tổng công ty tham gia, từ nghiên cứu, sản xuất đến quá trình sử dụng sản phẩm của người nông dân. Trên cơ sở đó, PVFCCo xây dựng và triển khai các hoạt động quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học và chất đất theo cách tiếp cận chủ động, phòng ngừa và gắn với định hướng phát triển bền vững trong dài hạn.

Bảo tồn đa dạng sinh học và chất đất trong chuỗi giá trị

Hoạt động sử dụng phân bón vô cơ có thể tạo ra những tác động nhất định đối với chất lượng đất và cân bằng sinh thái tại các khu vực canh tác nông nghiệp nếu không được quản lý và sử dụng hợp lý. Nhận thức rõ trách nhiệm của doanh nghiệp trong chuỗi giá trị nông nghiệp, PVFCCo không chỉ tập trung quản lý và giảm thiểu các tác động liên quan đến đa dạng sinh học tại khu vực xung quanh Nhà máy Đạm Phú Mỹ, mà còn chủ động lồng ghép các giải pháp bảo vệ môi trường đất và hệ sinh thái trong suốt vòng đời sản phẩm, từ nghiên cứu – sản xuất đến quá trình sử dụng của người nông dân.

Xem thêm

Hoạt động bền vững, giảm thiểu tác động tiêu cực tới môi trường

Trong quá trình triển khai các hoạt động sản xuất – kinh doanh, PVFCCo áp dụng nguyên tắc phòng ngừa nhằm hạn chế tối đa các tác động đến các khu vực có giá trị sinh thái cao. Theo đó, Tổng công ty không đầu tư xây dựng hay vận hành các cơ sở tại hoặc gần các khu bảo tồn thiên nhiên, khu vực có mức độ đa dạng sinh học cao hoặc các sinh cảnh nhạy cảm, dựa trên phân loại và đánh giá của các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức quốc tế có uy tín.

Xem thêm

Góp phần xây dựng hệ sinh thái bền vững

PVFCCo cũng tích cực tham gia các chương trình bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái thông qua các sáng kiến trồng cây và cải tạo đất. PVFCCo đã phối hợp cùng Công đoàn, Đoàn Thanh niên và các đơn vị chức năng tổ chức các chương trình: “Tết trồng cây hàng năm”, “Vườn cây Công đoàn tại Nhà máy”, “Xanh hóa Trường Sa”, phối hợp với Vùng 4 Hải quân tại Cam Ranh (Khánh Hòa) để thực hiện Chương trình “Xanh hóa Trường Sa” với tổng số cây đã trồng đạt hơn 305.650 cây xanh (hoàn thành kế hoạch triển khai chương trình trồng 300.000 cây xanh giai đoạn 2022–2025 của Tập đoàn giao cho PVFCCo), nhằm phủ xanh vùng cát ven biển, tăng khả năng giữ đất, chắn gió tại khu vực Trường Sa. Hoạt động này đồng thời góp phần cải thiện chất lượng đất trong điều kiện khắc nghiệt thông qua cơ chế cố định nitơ sinh học, hỗ trợ phục hồi thảm thực vật và đa dạng sinh học địa phương.

Xem thêm